Đang Tải Dữ Liệu....
Chủ nhật, ngày 13 tháng 6 năm 2021

Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2021

07/04/2021 03:11

Trong giai đoạn tới, chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam tiếp tục xu hướng chuyển từ thu hút bằng mọi giá sang thu hút có chọn lọc nhằm tăng năng lực sản xuất quốc gia, tính lan tỏa giữa khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với khu vực kinh tế trong nước; hạn chế các dự án FDI tác động tiêu cực tới môi trường hay sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, tiêu tốn tài nguyên, năng lượng; tận dụng lao động giá rẻ trình độ thấp và ít tạo ra giá trị gia tăng, hàm lượng khoa học công nghệ thấp…

Bên cạnh đó, trước xu thế dịch chuyển của dòng vốn FDI, cũng như các nước trong khu vực đang đẩy mạnh thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao từ các tập đoàn, công ty đa quốc gia, Việt Nam cũng cần ban hành các chính sách phù hợp để đón làn sóng dịch chuyển này.

 

1. Những điểm nhấn về dòng vốn FDI vào Việt Nam năm 2020
 

Mặc dù đón nhận nhiều thông tin tích cực từ các nhà đầu tư của các quốc gia lớn, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và sự phục hồi của các nền kinh tế còn chậm dẫn đến các quyết định đầu tư mới và mở rộng quy mô dự án FDI tiếp tục bị ảnh hưởng. Số dự án mới, điều chỉnh vốn và cả số lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đều giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên mức độ giảm cũng đang dần được cải thiện. Tính đến ngày 20/12/2020, tổng vốn FDI vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,5 tỷ USD, bằng 75% năm 2019. Trong đó có 2.523 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 14,6 tỷ USD, bằng 87% năm 2019. Tuy nhiên, trong năm 2020 có 1.140 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm 6,4 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2019. Bên cạnh đó, bất chấp những ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, số vốn FDI thực hiện năm 2020 đạt gần 20 tỷ USD, bằng 98% năm 2019.
 

Hơn nữa, trong năm 2020, Việt Nam cũng thu hút được các dự án đầu tư nước ngoài quy mô lớn, tạo sự bứt phá cho dòng vốn FDI trong thời gian tới. Điển hình như d án Điện khí từ khí hóa lỏng LNG Bạc Liêu - Nhà đầu tư Delta Offshore Energy (Singapore), đối tác chiến lược Bechtel Corporation, General Electric và McDermott (Hoa Kỳ) với tổng mức đầu tư 50 tỷ USD trong 25 năm; dự án Tổ hợp hóa dầu miền Nam do Công ty trách nhiệm hữu hạn Lọc hóa dầu Long Sơn (Tập đoàn SCG của Thái Lan) làm chủ đầu tư có tổng vốn đầu tư hơn 5,1 tỷ USD; dự án tại Khu công nghiệp Deep C tại Hải Phòng của Pegatron (Đài Loan, Trung Quốc) bao gồm 3 dự án trị giá 1 tỷ USD; dự án khu bất động sản LOGOS Bắc Ninh Logistics Estate của Logos Vietnam Logistics Venture (Úc) có vốn đầu tư vào khoảng 70 triệu USD, trong danh mục đầu tư ban đầu của liên doanh là khoảng 350 triệu USD; Trung tâm Nghiên cứu và phát triển của Samsung có quy mô đầu tư khoảng 220 triệu USD.
 

Cùng với đó, một số dự án lớn cũng đang được xúc tiến đầu tư như dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện và kho cảng khí hóa lỏng tại Khánh Hòa của Tập đoàn Dầu khí Millenium (Hoa Kỳ) trị giá 15 tỷ USD; dự án của Tập đoàn Exxon Mobil (Hoa Kỳ) trị giá hơn 5 tỷ USD. Ngoài ra, một số nhà sản xuất đa quốc gia đã thông báo kế hoạch mở rộng, di chuyển sản xuất đến Việt Nam như các nhà cung cấp linh kiện và lắp ráp cho Apple (gồm nhà sản xuất thiết bị điện tử lớn nhất thế giới Foxconn đã xây dựng nhà máy tại Việt Nam và Ấn Độ); Tập đoàn Pegatron công bố kế hoạch đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam; các công ty lớn khác Sharp, Nintendo, Komatsu (Nhật Bản) và Lenovo (Hồng Kông). Gần đây nhất, trong chương trình hỗ trợ đa dạng hóa chuỗi cung ứng ở nước ngoài của doanh nghiệp Nhật Bản đã có 15 doanh nghiệp Nhật Bản đăng ký đầu tư sang Việt Nam, trong đó, phần lớn là các doanh nghiệp sản xuất thiết bị y tế, chất bán dẫn, điện thoại di động và linh kiện, máy điều hòa không khí. Ngoài ra, một số doanh nghiệp lớn trên thế giới như Google, Microsoft cũng đang chuyển dây chuyền sản xuất điện thoại, laptop sang Việt Nam.
 

Theo bảng xếp hạng “sức khỏe” tài chính của 66 nền kinh tế mới nổi của The Economist (2020), Việt Nam đứng thứ 12, thuộc nhóm an toàn sau dịch Covid-19, các chỉ số tài chính ổn định, tạo ra cơ hội lớn để Việt Nam thu hút FDI trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia đang tìm kiếm những điểm đến an toàn nhằm thiết lập lại cơ sở sản xuất sau dịchNhư vậy, sức hút từ nền chính trị ổn định, nguồn nhân lực dồi dào, các chính sách đầu tư thân thiện với doanh nghiệp và các khu công nghiệp, đặc biệt là những thành công trong kiểm soát dịch Covid-19, đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệu quả đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, năm 2020, mặc dù trong xu thế giảm chung của dòng vốn đầu tư toàn cầu, dòng vốn, đặc biệt là các dòng vốn lớn, chất lượng cao, vẫn đang theo xu hướng chảy vào Việt Nam, đưa Việt Nam tiếp tục trở thành trung tâm thu hút FDI toàn cầu.
 

2. Định hướng chính sách thu hút FDI năm 2021
 

Trong thời gian tới, thu hút vốn FDI có thể tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19 đang bùng phát trở lại tại nhiều quốc gia lớn là đối tác quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều động thái tích cực như thành lập tổ công tác đặc biệt nhằm đón đầu làn sóng đầu tư khi thế giới tái định vị chuỗi cung ứng và sản xuất sau dịch Covid-19, thông qua Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp với nhiều sửa đổi quan trọng về đầu tư, cũng như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc Việt Nam ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Anh - Việt Nam (UKVFTA); các FTA lớn như FTA Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang tạo ra các cơ hội lớn để Việt Nam hội nhập, tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất thế giới, lựa chọn các dự án FDI có chất lượng để tiến lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, để tận dụng các cơ hội, cũng như khắc phục những khó khăn, thách thức do sự biến động sâu sắc về địa chính trị, kinh tế - xã hội và hệ lụy do dịch Covid-19 mang lại, chiến lược, chính sách thu hút FDI ở Việt Nam cần có những thay đổi mang tính đột phá trong năm 2021, cũng như các năm tiếp theo.
 

Trong giai đoạn tới, chiến lược thu hút vốn FDI của Việt Nam tiếp tục xu hướng chuyển từ “thu hút bằng mọi giá” sang “thu hút có chọn lọc”; chuyển từ “thu hút thụ động” sang “thu hút chủ động”; chuyển từ “thu hút dựa trên hiệu quả tài chính và quy mô dự án” sang “thu hút dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường” nhằm tăng năng lực sản xuất quốc gia, tính lan tỏa giữa khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước. Bên cạnh đó, với quan điểm hợp tác đầu tư nước ngoài win-win, trong đó “win” đối với khu vực doanh nghiệp trong nước là nhận được sự hỗ trợ từ nguồn lực bên ngoài để rút ngắn giai đoạn phát triển và khoảng cách lạc hậu về công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với giá trị gia tăng cao. Do đó, “chọn lọc” trong Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 là gắn với tiêu chí công nghệ, môi trường, đặc biệt là cam kết hợp tác đưa doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
 

Chính sách thu hút các nhà đầu tư nước ngoài là bước đầu tiên, là nền tảng để dòng vốn FDI đi theo đúng định hướng của Chính phủ. Vì vậy, Việt Nam cần thực hiện chính sách chủ động thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu; ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất gắn với đào tạo nhân lực. Do đó, trên cơ sở định hướng thu hút FDI, định hướng chính sách FDI trong thời gian tới cần tập trung vào một số nhóm sau:
 

Khung pháp lý
 

(i) Rà soát và bổ sung các quy định, điều kiện để thu hút, duy trì và sàng lọc các khoản đầu tư hiệu quả để tối đa hóa tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi liên kết, Chính phủ cần xây dựng hệ thống chứng nhận chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn tham gia vào chuỗi cung ứng của các công ty nước ngoài.
 

(ii) Tiếp tục tạo khung pháp lý cho việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư, hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, trao đổi lao động kỹ thuật...; chú trọng một số phương thức đầu tư mới trong thời gian gần đây như phương thức đầu tư xuyên biên giới không góp vốn (NEM) và hình thức đầu tư mới (NFI) với các hình thức cụ thể như thuê gia công, thuê ngoài dịch vụ, khoán nông nghiệp, nhượng quyền, cấp phép và quản lý theo hợp đồng.
 

(iii) Hoàn thiện các quy định liên quan đến mua bán - sáp nhập (M&A); tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, cũng như trong các lĩnh vực trọng yếu; cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xem xét cụ thể các thương vụ M&A lớn… qua đó hạn chế tối đa tình trạng nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát, thâu tóm các ngành, lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế.
 

(iv) Xây dựng các quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới nhằm lựa chọn các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và có năng lực; đồng thời ban hành các quy định để bảo vệ uy tín và hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư nghiêm túc, luôn tuân thủ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
 

(v) Rà soát và hoàn thiện hệ thống chính sách về chuyển giao công nghệ, chính sách về nghiên cứu phát triển; thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước hướng tới khai thác tốt các cơ hội, lợi thế; giảm thiểu các tác động không mong muốn trong thu hút FDI.
 

Chính sách ưu đãi đầu tư
 

Chính sách ưu đãi cần hướng vào những ngành, nghề, lĩnh vực có khả năng tạo ra các “ngoại ứng tích cực cho nền kinh tế”; tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên như công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đầu tư cho con người (y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo); logistic; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là các ngành nghề mới trên nền tảng công nghiệp 4.0…
 

Các chính sách ưu đãi hiện hành cần được điều chỉnh theo hướng chọn lọc ưu đãi dựa trên địa bàn đầu tư, chuyển dần ưu đãi dựa trên địa bàn, ưu đãi theo quy mô sang ưu đãi dựa theo ngành nghề, lĩnh vực cũng như ưu đãi dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường. Việc điều chỉnh các chính sách ưu đãi cần được thực hiện sớm nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quy hoạch thu hút đầu tư, cũng như góp phần hạn chế tối đa tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương.
 

Chính sách thu hút đại bàng
 

Chiến tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc leo thang và dịch Covid-19 bùng phát là động lực thúc đẩy quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng và tái cơ cấu đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia diễn ra nhanh hơn theo hai xu hướng: (i) Rút vốn đầu tư quay trở lại; (ii) Mở rộng đầu tư sang quốc gia khác có lợi thế cạnh tranh, phù hợp với xu hướng phát triển mới về phân công giá trị chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Vì vậy, nhiều nước, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN, đã đưa ra nhiều ưu đãi, hỗ trợ nhằm thu hút dòng vốn FDI dịch chuyển từ Trung Quốc, đặc biệt là các dự án quy mô lớn và các công ty đa quốc gia. Một số chính sách quan trọng được các nước triển khai như đàm phán trực tiếp; chuẩn bị quỹ đất và đưa ra các ưu đãi lớn về đất đai; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng trợ cấp thuế cho những ngành ưu đãi đầu tư, các công ty đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 và các công ty toàn cầu tham gia vào các ngành công nghệ cao cấp.
 

Bên cạnh sự hấp dẫn từ môi trường chính trị ổn định, kiểm soát tốt dịch Covid-19, Việt Nam cũng đã có nhiều động thái như: (i) Thành lập tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài với nhiệm vụ chủ động các biện pháp linh hoạt, phù hợp để tiếp cận, đàm phán với các tập đoàn lớn, công nghệ cao, đứng đầu hoặc vận hành các chuỗi giá trị, nhằm vận động, xúc tiến, phù hợp với mục đích, yêu cầu hợp tác đầu tư cùng có lợi; (ii) Quy định hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt áp dụng đối với các dự án đầu tư thành lập mới (bao gồm cả việc mở rộng dự án thành lập mới đó) các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển có tổng vốn đầu tư từ 3 nghìn tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 1 nghìn tỷ đồng trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; dự án đầu tư thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 30 nghìn tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 10 nghìn tỷ đồng trong thời hạn 3 năm… nhằm khuyến khích phát triển một số dự án đầu tư có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để không bỏ lỡ cơ hội thu hút các tập đoàn lớn, các dòng vốn đầu tư chất lượng, Chính phủ Việt Nam cần có những động thái và điều chỉnh chính sách kịp thời, mạnh mẽ hơn. Trong đó cần sớm ban hành các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đảm bảo các nội dung trong các luật này sẵn sàng được triển khai trong năm 2021; đẩy nhanh công tác chuẩn bị các điều kiện như rà soát quỹ đất, mặt bằng nhà xưởng và các hạ tầng thiết yếu khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài tìm hiểu cơ hội đầu tư và làm việc tại Việt Nam; chuyển từ thiết kế chính sách “may sẵn” cho tất cả các nhà đầu tư sang “may đo” cho từng nhà đầu tư cụ thể.
 

Cải cách thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh
 

Theo các nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các ưu đãi về thuế hay gánh nặng thuế thấp cũng không hấp dẫn bằng môi trường kinh doanh thuận lợi. Vì vậy, trong năm 2021, cũng như các năm tiếp theo, Chính phủ cần tiếp tục ban hành và thực hiện hiệu quả các Nghị quyết số 02/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với điểm nhấn là cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; đơn giản hóa thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kiểm tra chuyên ngành… Cùng với đó, Chính phủ Việt Nam cũng cần thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện về cơ sở hạ tầng (giao thông, thông tin); nâng cao chất lượng và đảm bảo nguồn cung lao động có trình độ…

 

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

2. Chính phủ (2018), Chiến lược và định hướng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2018 - 2030.

3Đặng Hoài Linh (2020), Thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong giai đoạn hậu đại dịch Covid-19.

4. Lê Minh Hương (2019), Chính sách tài chính thu hút vốn FDI tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, Bộ Tài chính.

5. Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2020.

VITIC tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính 
Link gốc

Bản quyền thuộc về Bộ Công Thương
Địa chỉ: 54 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Chịu trách nhiệm nội dung: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (655 Phạm Văn Đồng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội)
Điện thoại: (024) 37150530 | Fax: (024) 37150489
Giấy phép số 104/GP-TTĐT ngày 07/05/2018 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Số người trực tuyến: 3
Số người truy cập: 1.542.216