CHỈ SỐ LOGISTICS PERFORMANCE INDEX (LPI) CỦA VIỆT NAM NĂM 2018 TĂNG 25 BẬC
Đứng thứ nhất trong danh sách vẫn là Đức và thứ 160 là Afghanistan. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam xếp thứ 3 sau Singapore (7) và Thái Lan (32). Theo xếp hạng này, bước đầu chúng ta đã hoàn thành một mục tiêu mà Quyết định 200/QĐ-TTg, ngày 14/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt là “Xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt từ 50 trở lên”.
Đây là thành quả nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp sản xuất, xuất/nhập khẩu và nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, các Hội viên VLA và Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) trong việc thực hiện Quyết định 200/QĐ-TTg, tìm mọi biện pháp giảm chi phí logistics, nâng cao chất lượng dịch vụ, năng cao năng lực cạnh tranh để phát triển mạnh mẽ ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong điều kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Qua Bảng so sánh về Chỉ số LPI và 6 chỉ số đánh giá thành phần các hoạt động của Logistics Việt Nam từ 2007 đến 2018 dưới đây ta sẽ thấy kết quả phấn đấu của Ngành Logistics Việt Nam trong những năm qua.
Đáng lưu ý là tất cả các chỉ số đã có sự cải thiện so với xếp hạng lần trước (năm 2016), ví dụ thông quan tăng từ 2,98 điểm lên 3,27 điểm, nhờ những nỗ lực trong việc đơn giản hóa các thủ tục hải quan và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thông quan; kết cấu hạ tầng tăng từ 2,7 lên 3,01 điểm với sự cải thiện nổi bật của hệ thống đường bộ, cảng biển (trong khi hệ thống hạ tầng đường sắt, đường thủy nội địa và sân bay cần có những bứt phá hơn nữa). Điểm số của nhóm năng lực và chất lượng dịch vụ logistics được cải thiện rõ nét từ 2,88 điểm lên 3,40 điểm, đứng thứ 2 về mức cải thiện điểm số trong nhóm các chỉ số thành phần của LPI, sau nhóm khả năng truy xuất nguồn gốc lô hàng (với mức tăng mạnh từ 2,84 lên 3,45 điểm).
Tuy nhiên, nhóm vận tải quốc tế và tính thời gian chỉ tăng khá khiêm tốn, cho thấy đây là hai lĩnh vực cần tập trung đầu tư cải thiện trong thời gian tới.
Diễn giải của cột 1-Chỉ số đánh giá thành phần của hoạt động logistics trên đây:
1) Hiệu quả của quá trình thông quan (tức là: tốc độ, tính đơn giản và khả năng dự đoán của các thủ tục) bởi các cơ quan kiểm soát biên giới, bao gồm cả hải quan;
2) Chất lượng kết cấu hạ tầng thương mại và giao thông liên quan (ví dụ: cảng, đường sắt, đường bộ, công nghệ thông tin);
3) Tính dễ dàng trong việc sắp xếp các chuyến hàng có giá cạnh tranh;
4) Năng lực và chất lượng của dịch vụ logistics (ví dụ, các nhà khai thác vận tải, môi giới hải quan);
5) Khả năng theo dõi và truy suất lô hàng;
6) Tính kịp thời của lô hàng khi đến đích trong thời gian quy định giao hàng hoặc dự kiến giao hàng.
VITIC tổng hợp/ Tham khảo Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam